CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN WEBSITE SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẾN TRE !
Trang chủ Thông tin hoạt động Ngành Phòng Kiểm tra và theo dõi việc thi hành VBQPPL Quy định về công tác thẩm định văn bản quy phạm pháp luật cấp tỉnh – Thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Bến Tre

Quy định về công tác thẩm định văn bản quy phạm pháp luật cấp tỉnh – Thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Bến Tre

Email In PDF.
Thẩm định văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là một khâu trong hoạt động xây dựng và ban hành VBQPPL của Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh, cấp huyện. Đây được xem là hoạt động xem xét, đánh giá về nội dung lẫn hình thức văn bản; nhằm đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất và đồng bộ của dự thảo văn bản trong hệ thống pháp luật và việc tuân thủ trình tự, thủ tục soạn thảo của dự thảo văn bản; cung cấp thông tin tổng quát về dự thảo văn bản để cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định ban hành văn bản. Hoạt động thẩm định VBQPPL được thực hiện theo Luật Ban hành VBQPPL của HĐND, UBND; Nghị định số 91/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật ban hành VBQPPL của HĐND, UBND và các văn bản có liên quan. Qua thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về thẩm định VBQPPL của tỉnh còn một số khó khăn, vướng mắc.

1. Quy định của pháp luật về công tác thẩm định – Thực tiễn áp dụng

Về đối tượng thẩm định

Theo quy định của Luật Ban hành VBQPPL của HĐND và UBND thì Sở Tư pháp có chức năng thẩm định dự thảo Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh do UBND cùng cấp trình và VBQPPL của UBND tỉnh. Tại Nghị định số 91/2006/NĐ-CP đã hướng dẫn các yếu tố để xác định một VBQPPL đồng thời liệt kê một số văn bản không phải là VBQPPL. Tuy nhiên, trên thực tế để xác định đâu là VBQPPL, đâu không phải là VBQPPL vẫn chưa được thống nhất, còn nhiều ý kiến khác nhau bởi chưa có tiêu chí rõ ràng để xác định đâu là “quy tắc xử sự chung”. Điều đó dẫn đến việc nhận thức để phân định văn bản có phải là VBQPPL hay không; trong nhiều trường hợp, không có sự thống nhất giữa cơ quan soạn thảo với cơ quan thẩm định. Ví dụ: Nghị quyết về phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước, dự toán và phân bổ ngân sách nhà nước, Nghị quyết thông qua quy hoạch … là VBQPPL hay không phải là VBQPPL … Như vậy, do chưa có tiêu chí rõ ràng để xác định đâu là VBQPPPL, đâu không phải là VBQPPL nên đối tượng thẩm định trong một số trường hợp là không xác định được.

Về thời hạn thẩm định

Theo quy định của Luật thì chậm nhất là mười lăm ngày trước ngày Uỷ ban nhân dân họp, cơ quan soạn thảo phải gửi hồ sơ dự thảo đến cơ quan tư pháp để thẩm định. Đồng thời, chậm nhất là bảy ngày trước ngày Uỷ ban nhân dân họp, cơ quan tư pháp gửi báo cáo thẩm định đến cơ quan soạn thảo. Luật quy định ở đây chậm nhất 15 ngày trước ngày Ủy ban nhân dân họp đây là thời gian tối thiểu để gửi văn bản đến cơ quan thẩm định. Trường hợp, cơ quan soạn thảo gửi sớm hơn thời gian này, cơ quan thẩm định sẽ có thêm thời gian để thu thập, nghiên cứu thêm các tài liệu liên quan đến dự thảo thẩm định, trường hợp gửi muộn hơn thì cơ quan thẩm định không đủ thời gian để nghiên cứu làm ảnh hưởng đến chất lượng văn bản. Như vậy, Luật chưa quy định cụ thể thời hạn thẩm định mà chỉ quy định thời hạn ít nhất được quy định trong Luật là 08 ngày. Thực tế, áp dụng quy định của Luật hầu hết việc gửi dự thảo văn bản muộn hơn so với quy định (có trường hợp yêu cầu thẩm định trong một buổi), gây không ít khó khăn cho cơ quan tư pháp trong quá trình thẩm định đồng thời ảnh hưởng đến chất lượng văn bản sau khi ban hành của tỉnh.

Về giá trị pháp lý của văn bản thẩm định

Luật và Nghị định số 91/2006/NĐ-CP quy định thẩm định là một khâu bắt buộc trong quy trình soạn thảo và ban hành VBQPPL của tỉnh, không có văn bản thẩm định thì HĐND, UBND sẽ không xem xét đối với dự thảo văn bản đó. Tuy nhiên, quy định của pháp luật cũng chỉ dừng ở đó mà không có quy định cụ thể giá trị pháp lý của văn bản thẩm định. Văn bản thẩm định chỉ được coi như một kênh thông tin, cơ quan soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu tiếp thu ý kiến của cơ quan thẩm định, chỉnh lý dự thảo văn bản, trường hợp không tiếp thu thì phải giải trình. Vì vậy, đối với văn bản thẩm định cơ quan soạn thảo có thể tiếp thu ý kiến thẩm định hoặc không tiếp thu ý kiến thẩm định.

Về việc thực hiện thẩm định

Luật chỉ quy định cơ quan tư pháp cấp tỉnh có trách nhiệm thẩm định VBQPPL của HĐND, UBND tỉnh. Thực tế, việc thẩm định VBQPPL sẽ được phân công cho một công chức để thực hiện thẩm định, công chức làm việc độc lập, nghiên cứu và dự thảo Báo cáo thẩm định trình lãnh đạo Phòng Xây dựng văn bản xem xét. Sau khi lãnh đạo Phòng duyệt, trình lãnh đạo Sở xem xét và ký ban hành. Thiết nghĩ công tác thẩm định có vai trò quan trọng, đảm bảo văn bản VBQPPL của HĐND, UBND tỉnh sau khi ban hành phù hợp với quy định của pháp luật; nhưng việc thực hiện văn bản thẩm định lại do một cá nhân nghiên cứu, khó tránh khỏi những sai sót do trình độ năng lực còn hạn chế. Mặt khác, hoạt động thẩm định VBQPPL có liên quan đến nhiều lĩnh vực như: đất đai, xây dựng, phí, lệ phí, …trong khi đó công chức thực hiện chức năng thẩm định chỉ học cử nhân luật. Do đó, đối với việc thẩm định những văn bản chuyên ngành cũng khó có thể thực hiện tốt.

2. Hoàn thiện pháp luật về công tác thẩm định

Để nâng cao chất lượng ban hành VBQPPL của tỉnh, nhất là để hoàn thiện công tác thẩm định VBQPPL của HĐND, UBND tỉnh trong thời gian tới cần:

Thứ nhất, quy định cụ thể đối tượng thẩm định văn bản là QPPL. Trên cơ sở đó có tiêu chí để phân biệt đâu là VBQPPL đâu không phải là VBQPPL.

Thứ hai, quy định giá trị pháp lý của văn bản thẩm định, có giá trị bắt buộc trong văn bản Luật. Cơ quan yêu cầu thẩm định có trách nhiệm tiếp thu ý kiến của cơ quan thẩm định.

Thứ ba, quy định bắt buộc về việc thành lập Tổ thẩm định khi thẩm định đối với những VBQPPL phức tạp, có liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực trong văn bản Luật hoặc dưới luật. Như vậy, mới có thể hạn chế thấp nhất việc bỏ sót những nội dung không phù hợp với quy định trong dự thảo văn bản, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng văn bản thẩm định.

Thứ tư, quy định thời hạn thẩm định theo hướng gia tăng thời gian thẩm định. Thời hạn thẩm định sẽ được tính kể từ ngày cơ quan tư pháp nhận đủ hồ sơ hợp lệ.